ĐHY Robert Sarah chỉ trích Tuyên ngôn Fiducia Supplicans là lạc thuyết, kêu gọi các Giám Mục trên thế giới phản kháng

Nghe bài này

Đức Hồng Y Robert Sarah, nguyên tổng trưởng Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã có một thông điệp gởi các Hồng Y, Giám Mục, linh mục, nam nữ tu sĩ và anh chị em giáo dân trên toàn thế giới liên quan đến Tuyên ngôn Fiducia Supplicans.

Nguyên bản tiếng Pháp có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.

THÔNG ĐIỆP GIÁNG SINH

Rôma, ngày 6 Tháng Giêng năm 2024, lễ Chúa Hiển Linh

Vào ngày lễ Giáng Sinh, Hoàng tử Hòa bình đã trở thành một người phàm vì chúng ta. Ngài mang đến cho mọi người thiện tâm sự bình an đến từ Thiên Đàng. “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian” (Ga 14:27). Sự bình an mà Chúa Giêsu mang đến cho chúng ta không phải là một đám mây trống rỗng, không phải là sự bình an trần thế mà thường chỉ là một sự thỏa hiệp mơ hồ, được thương lượng giữa lợi ích và sự dối trá của mỗi người. Sự bình an của Chúa là sự thật. “Chân lý là sức mạnh của hòa bình, vì nó mặc khải và hoàn thành sự hiệp nhất của con người với Thiên Chúa, với chính mình và với người khác. Sự thật củng cố hòa bình và xây dựng hòa bình”, Thánh Gioan Phaolô II dạy [1]. Sự Thật nhập thể đã đến sống giữa loài người. Ánh sáng của chân lý không làm phiền. Lời Ngài không gieo rắc sự nhầm lẫn và hỗn loạn, nhưng mặc khải thực tại của mọi sự. Người “là” sự thật và do đó là “dấu chỉ mâu thuẫn” từ đó “những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra” (Lc 2,34-35).

Sự thật là điều đầu tiên trong lòng thương xót mà Chúa Giêsu ban cho những người tội lỗi. Liệu đến lượt chúng ta, chúng ta có dám thể hiện được lòng thương xót trong sự thật không? Đối với chúng ta, có một rủi ro lớn là tìm kiếm hòa bình trần thế, sự nổi tiếng thế gian được mua bằng giá của sự dối trá, mơ hồ và sự im lặng đồng lõa.

Hòa bình trần thế là giả dối và hời hợt. Bởi vì sự dối trá, thỏa hiệp và nhầm lẫn tạo ra sự chia rẽ, nghi ngờ và chiến tranh giữa anh em. Đức Thánh Cha Phanxicô gần đây đã nhắc lại điều này: “Ma quỷ có nghĩa là ‘kẻ chia cắt’. Ma quỷ luôn muốn gây chia rẽ” [2]. Ma quỷ chia rẽ vì “sự thật không ở trong nó. Khi nó nói dối là nó nói theo bản tính của nó, bởi vì nó là kẻ nói dối, và là cha sự gian dối.” (Ga 8:44).

Chính sự nhầm lẫn, sự thiếu rõ ràng, thiếu chân lý và chia rẽ đã làm xáo trộn và làm đen tối lễ Giáng Sinh năm nay. Một số phương tiện truyền thông khẳng định rằng Giáo Hội Công Giáo khuyến khích việc ban phước lành cho các kết hợp đồng giới. Họ nói dối. Họ làm công việc của người chia rẽ. Một số giám mục cũng đi theo hướng này, gieo rắc nghi ngờ và tai tiếng trong tâm hồn các tín hữu bằng cách tuyên bố chúc lành cho những kết hợp đồng giới như thể chúng hợp pháp, phù hợp với bản chất do Thiên Chúa tạo dựng, như thể chúng có thể dẫn đến sự thánh thiện và hạnh phúc cho con người. Họ chỉ tạo ra những lầm lạc, những tai tiếng, những nghi ngờ và thất vọng. Các vị giám mục này phớt lờ hoặc quên đi lời cảnh báo nghiêm khắc của Chúa Giêsu đối với những kẻ xúc phạm những kẻ bé mọn: “ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin Thầy đây phải sa ngã, thì thà treo cối đá lớn vào cổ nó mà xô cho chìm xuống đáy biển còn hơn” (Mt 18,6). Một tuyên bố gần đây của Bộ Giáo lý Đức tin, được công bố với sự chấp thuận của Đức Thánh Cha Phanxicô, đã không thể sửa chữa những sai sót này, cũng chẳng hành động như một công việc của sự thật. Hơn nữa, với sự thiếu rõ ràng, nó chỉ làm tăng thêm sự nhầm lẫn ngự trị trong lòng và một số người thậm chí còn lợi dụng nó để hỗ trợ cho nỗ lực thao túng của họ.

Phải làm gì trước sự nhầm lẫn mà ma quỷ đã gieo vào lòng Giáo hội? “Bạn không thể tranh luận với ma quỷ!”, Đức Thánh Cha Phanxicô nói. “ma quỷ không có đàm phán, không có đối thoại; bạn không thể đánh bại ma quỷ bằng cách đối phó với nó, ma quỷ mạnh hơn chúng ta. Chúng ta đánh bại ma quỷ bằng cách Lời Chúa, bằng đức tin. Bằng cách này, Chúa Giêsu dạy chúng ta bảo vệ sự hiệp nhất với Thiên Chúa và với nhau khỏi sự tấn công của những kẻ chia rẽ. Lời Chúa là câu trả lời của Chúa Giêsu trước sự cám dỗ của ma quỷ” [3]. Theo logic của giáo huấn này của Đức Thánh Cha Phanxicô, chúng ta cũng không tranh cãi với kẻ gây chia rẽ. Chúng ta không cần tranh cãi với Tuyên ngôn “Fiducia supplicans”, cũng như những cách sử dụng khác nhau của nó mà chúng ta đã thấy nhiều lần. Chúng ta chỉ đáp lại bằng Lời Chúa, bằng huấn quyền và giáo huấn truyền thống của Giáo Hội.

Để duy trì hòa bình và hiệp nhất trong sự thật, chúng ta phải từ chối tranh luận với những kẻ gây chia rẽ, chúng ta phải đáp lại sự nhầm lẫn với Lời Chúa. Vì “Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tuỷ; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người.” (Dt 4:12).

Như Chúa Giêsu trước mặt người phụ nữ xứ Samaria, chúng ta hãy có can đảm dám nói lên sự thật. “Cô nói đúng khi nói rằng ‘Tôi không có chồng’. Vì cô đã có năm đời chồng, và người hiện nay không phải là chồng cô; ở điểm này cô đã nói sự thật” (Ga 4:18). Chúng ta nói gì với những người liên quan đến các kết hiệp đồng tính đây? Thưa: như Chúa Giêsu đã làm, chúng ta hãy có can đảm thực hiện lòng thương xót đầu tiên: đó là nói lên sự thật khách quan của các hành động.

Do đó, với Sách Giáo lý Giáo Hội Công Giáo (2357), chúng ta có thể tuyên bố: “Đồng tính luyến ái là những liên hệ giữa những người nam hay nữ cảm thấy bị lôi cuốn tính dục với người đồng phái nhiều hơn với người khác phái. Đồng tính luyến ái xuất hiện trong nhiều thời đại và văn hóa, với nhiều hình thức khác nhau. Cho đến nay, người ta vẫn chưa giải thích được nguyên nhân tâm thần của hiện tượng này. Căn cứ vào Kinh Thánh vốn xem chúng như những suy đồi nghiêm trọng ( x. St 19,1-29; Rm 1,24-27; 1 Cr 6,10; 1Tm 1,10 ), truyền thống Hội Thánh luôn tuyên bố: ”Các hành vi đồng tính luyến ái tự bản chất là thác loạn” ( x. CDF, décl “persona humana” 8 ). Các hành vi này nghịch với luật tự nhiên vì loại bỏ chủ đích truyền sinh của hành vi tính dục, cũng không xuất phát từ nhu cầu bổ túc thực sự về tình cảm và tính dục. Những hành vi này không thể chấp nhận được trong bất cứ trường hợp nào”.

Bất kỳ đường lối mục vụ nào không gợi lại sự thật khách quan này sẽ thất bại trong công việc đầu tiên của lòng thương xót là ban tặng ân sủng sự thật. Tính khách quan này của sự thật không trái ngược với sự chú ý đến ý định chủ quan của con người. Nhưng lời dạy tuyệt vời và dứt khoát của Thánh Gioan Phaolô II phải được nhắc lại ở đây:

“Cần phải xem xét cẩn thận mối quan hệ đúng đắn tồn tại giữa tự do và bản chất con người, đặc biệt là vị trí mà cơ thể con người có trong các vấn đề về luật tự nhiên. […]

“Con người, kể cả thân xác, được ủy thác hoàn toàn cho chính mình, và chính trong sự thống nhất giữa linh hồn và thể xác mà con người trở thành chủ thể của các hành vi đạo đức của chính mình. Con người, qua ánh sáng của lý trí và sự hỗ trợ của nhân đức, khám phá ra nơi thân xác mình những dấu chỉ báo trước, sự diễn tả và lời hứa hiến thân, phù hợp với kế hoạch khôn ngoan của Đấng Tạo Hóa. […]

“Một học thuyết tách hành vi luân lý ra khỏi các chiều kích vật chất của việc thực thi nó là đi ngược lại với những lời dạy của Thánh Kinh và Thánh Truyền: học thuyết này làm sống lại, dưới những hình thức mới, một số sai lầm cũ mà Giáo hội luôn đấu tranh, khi chúng giản lược con người xuống mức thấp nhất là một sự tự do ‘tinh thần’, hoàn toàn hình thức. Sự giảm thiểu này bỏ qua ý nghĩa đạo đức của thân xác và những hành vi liên quan đến thân xác (x. 1Cor 6,19). Thánh Phaolô tông đồ tuyên bố rằng ‘những kẻ vô đạo đức, thờ ngẫu tượng, ngoại tình, dâm ô, kê gian, trộm cắp, tham lam, say sưa, vu khống và tống tiền’ đều bị loại trừ khỏi Nước Trời (x. 1Cor 6,9-10). Sự lên án này – được Công đồng Trentô xác nhận – liệt kê là ‘tội trọng’, hay ‘những hành vi ô nhục’, đó là một số hành vi cụ thể mà sự chấp nhận tự nguyện ngăn cản các tín hữu tham gia vào di sản đã hứa. Thực ra, thân xác và linh hồn không thể tách rời: nơi con người, nơi chủ thể tự nguyện và trong hành động có chủ ý, chúng cùng tồn tại hoặc cùng mất đi” (“Veritatis splendor” 48-49).

Nhưng người môn đệ của Chúa Giêsu không thể dừng lại ở đây. Đối mặt với người phụ nữ ngoại tình, Chúa Giêsu đã tha thứ trong sự thật: «Tôi cũng không lên án chị; từ nay về sau đừng phạm tội nữa” (Ga 8:11). Người đưa ra một con đường hoán cải, một con đường sống trong sự thật.

Tuyên ngôn “Fiducia supplicans” viết rằng phép lành thay vào đó được dành cho những người “cầu xin rằng tất cả những gì chân thật, tốt lành và có giá trị nhân bản trong cuộc sống và các mối quan hệ của họ sẽ được phong phú, chữa lành và nâng cao nhờ sự hiện diện của Chúa Thánh Thần” (số 31). Nhưng điều gì là tốt, chân thật và có giá trị về mặt nhân bản trong một mối quan hệ đồng tính luyến ái, được Kinh thánh và Truyền thống định nghĩa là một sự sa đọa nghiêm trọng và “rối loạn nội tại”? Làm sao một bản văn như vậy có thể tương ứng với Sách Khôn Ngoan vốn khẳng định: “Những lý luận quanh co khiến con người lìa xa Thiên Chúa. Kẻ ngu đần thử thách Đấng Quyền Năng sẽ bị Người làm cho bẽ mặt. Tâm hồn gian ác, Đức Khôn Ngoan chẳng ngự vào; xác thịt đắm chìm trong tội lỗi, Đức Khôn Ngoan không cư ngụ. Thần khí thánh là thầy dạy dỗ, luôn tránh thói lọc lừa” (Kn 1,3-5). Điều duy nhất cần yêu cầu ở những người đang sống trong mối quan hệ không tự nhiên là hãy hoán cải và tuân theo Lời Chúa.

Với Sách Giáo lý Giáo Hội Công Giáo (2358-2359), chúng ta có thể làm sáng tỏ hơn nữa khi nói:

Một số không nhỏ những người nam và người nữ có khuynh hướng đồng tính luyến ái thâm căn. Đối với đa số những người này, sự nghiêng chiều vô trật tự một cách khách quan đó, là một thử thách. Họ phải được đón nhận với sự tôn trọng, thông cảm và tế nhị. Phải tránh bất cứ dấu hiệu phân biệt đối xử bất công nào đối với họ. Những người này được kêu gọi thực hiện thánh ý Thiên Chúa trong cuộc sống của mình, và, nếu là Kitô hữu, họ được kêu gọi kết hợp các khó khăn họ có thể gặp phải do hoàn cảnh của mình, với hy lễ thập giá của Chúa. Những người đồng tính luyến ái được kêu gọi sống khiết tịnh. Nhờ các nhân đức giúp tự chủ dạy cho biết sự tự do nội tâm, và có khi nhờ sự nâng đỡ của tình bằng hữu vô vị lợi, nhờ việc cầu nguyện và ân sủng bí tích, chính họ có thể và phải dần dần và cương quyết tiến đến sự trọn hảo Kitô giáo.”

Như Đức Bênêđíctô XVI đã nhắc lại, “là con người, những người đồng tính xứng đáng được tôn trọng; […] không nên bị từ chối vì lý do này. Tôn trọng con người là điều tuyệt đối cơ bản và quyết định. Nhưng điều đó không có nghĩa đó là lý do tại sao đồng tính luyến ái là đúng. Vẫn còn điều gì đó hoàn toàn trái ngược với bản chất của điều Thiên Chúa muốn ban đầu.”

Do đó, Lời Chúa được Thánh Kinh và Thánh Truyền truyền lại là nền tảng vững chắc duy nhất, nền tảng chân lý duy nhất mà trên đó mọi hội đồng giám mục phải có khả năng xây dựng việc chăm sóc mục vụ về lòng thương xót và sự thật đối với những người đồng tính luyến ái. Sách Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo cống hiến cho chúng ta một sự tổng hợp mạnh mẽ, nó đáp ứng mong muốn của Công đồng Vatican II “dẫn dắt mọi người, bằng cách làm cho sự thật của Tin Mừng được tỏa sáng, tìm kiếm và đón nhận tình yêu của Chúa Kitô vượt quá mọi hiểu biết” [4].

Tôi phải cảm ơn các hội đồng giám mục đã thực hiện công việc chân lý này, đặc biệt là các hội đồng ở Cameroon, Chad, Nigeria, v.v., những người đã có những quyết định và sự phản đối kiên quyết đối với tuyên bố “Fiducia Supplicans” mà tôi chia sẻ và trích dẫn. Chúng ta phải khuyến khích các hội đồng giám mục quốc gia hoặc khu vực khác và mọi giám mục cũng làm như vậy. Khi làm như vậy, chúng ta không chống đối Đức Thánh Cha Phanxicô, nhưng chúng ta kiên quyết và triệt để phản đối tà giáo đang làm suy yếu nghiêm trọng Giáo hội, Thân thể Chúa Kitô, vì nó đi ngược lại đức tin và Truyền thống Công Giáo.

Đức Bênêđíctô XVI nhấn mạnh rằng “khái niệm ‘hôn nhân đồng tính’ mâu thuẫn với tất cả các nền văn hóa của nhân loại đã nối tiếp nhau cho đến ngày nay và do đó có nghĩa là một cuộc cách mạng văn hóa đi ngược lại toàn bộ truyền thống của nhân loại cho đến ngày nay”. Tôi tin rằng Giáo hội Phi Châu nhận thức sâu sắc về điều này. Nó không quên sứ mạng thiết yếu mà các giáo hoàng cuối cùng đã giao phó cho nó. Đức Thánh Cha Phaolô Đệ Lục, khi nói chuyện với các giám mục Phi Châu tụ tập tại Kampala vào năm 1969, đã tuyên bố: “’Nova Patria Christi Africa’: quê hương mới của Chúa Kitô là Phi Châu”. Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI đã hai lần giao phó cho Phi Châu một sứ mệnh to lớn: trở thành lá phổi tinh thần của nhân loại vì sự phong phú đáng kinh ngạc về con người và tinh thần của con cái, của các nền văn hóa của nó. Ngài nói trong bài giảng ngày 4 tháng 10 năm 2009: “Phi Châu đại diện cho một ‘lá phổi’ tinh thần to lớn cho một nhân loại dường như đang gặp khủng hoảng về đức tin và hy vọng. Nhưng ‘lá phổi’ này cũng có thể bị bệnh. Và hiện tại, có ít nhất hai căn bệnh nguy hiểm đang ảnh hưởng đến nó: trước hết là một căn bệnh đã lan rộng ở thế giới phương Tây, đó là chủ nghĩa duy vật thực dụng, kết hợp với tư duy tương đối và hư vô. […] Cái gọi là thế giới ‘thứ nhất’ đôi khi đã xuất khẩu và đang xuất khẩu chất thải tinh thần độc hại, lây nhiễm sang người dân ở các lục địa khác, đặc biệt là những người ở Phi Châu” [5].

Đức Gioan Phaolô II nhắc nhở người Phi Châu rằng họ phải tham gia vào cuộc đau khổ và cuộc khổ nạn của Chúa Kitô để cứu rỗi nhân loại, bởi vì “tên của mỗi người Phi Châu được viết trên bàn tay bị đóng đinh của Chúa Kitô” [6].

Sứ mệnh quan phòng của ngài ngày nay có lẽ là để nhắc nhở phương Tây rằng đàn ông không là gì nếu không có phụ nữ, đàn bà không là gì nếu không có đàn ông và cả hai đều không là gì nếu không có yếu tố thứ ba là trẻ em. Thánh Phaolô Đệ Lục đã nhấn mạnh “sự đóng góp không thể thay thế của các giá trị truyền thống của lục địa này: tầm nhìn thiêng liêng về cuộc sống, tôn trọng phẩm giá con người, ý thức về gia đình và cộng đồng” (“Africae terrarum” 8-12). Giáo hội ở Phi Châu sống nhờ vào di sản này. Vì Chúa Kitô và vì lòng trung thành của Giáo Hội với lời dạy của Người và bài học cuộc sống của Giáo Hội, Giáo Hội không thể chấp nhận những ý thức hệ vô nhân đạo được cổ vũ bởi một phương Tây suy đồi và phi Kitô giáo.

Phi Châu có nhận thức sâu sắc về sự tôn trọng cần thiết đối với thiên nhiên do Thiên Chúa tạo dựng. Đó không phải là vấn đề về tư duy cởi mở và tiến bộ xã hội như các phương tiện truyền thông phương Tây tuyên bố. Vấn đề là liệu cơ thể tình dục của chúng ta là món quà của sự khôn ngoan của Đấng Tạo Hóa hay là một thực tại vô nghĩa, nếu không nói là nhân tạo. Nhưng ở đây Đức Bênêđíctô XVI cũng cảnh báo chúng ta: “Khi chúng ta từ bỏ ý tưởng sáng tạo, chúng ta từ bỏ sự vĩ đại của con người”. Giáo hội Phi Châu trong Thượng Hội đồng vừa qua đã mạnh mẽ bảo vệ phẩm giá của người nam và người nữ do Thiên Chúa tạo dựng. Giọng nói của Giáo Hội thường bị những người có nỗi ám ảnh duy nhất là làm hài lòng các nhà vận động hành lang phương Tây phớt lờ, coi thường hoặc coi là quá đáng.

Giáo hội Phi Châu là tiếng nói của người nghèo, người đơn sơ và nhỏ bé. Nó có nhiệm vụ công bố Lời Chúa trước các Kitô hữu phương Tây, những người giàu có, được trang bị nhiều kỹ năng về triết học, thần học, kinh thánh và khoa học kinh điển, tin rằng họ tiến hóa, hiện đại và khôn ngoan theo sự khôn ngoan của thế giới.. Nhưng “cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1 Cô-rinh-tô 1:25). Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi các giám mục Phi Châu, trong hoàn cảnh nghèo khó của các ngài, ngày nay lại là những người loan báo sự thật thiêng liêng này trước quyền lực và sự giàu có của một số giám mục phương Tây. Bởi vì “những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh; những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để huỷ diệt những gì hiện có, để không ai có thể tự phụ trước mặt Thiên Chúa” (1Cor 1,27-28). Nhưng liệu chúng ta có đủ can đảm để lắng nghe họ trong phiên họp tiếp theo của Thượng Hội đồng về tính đồng nghị không? Hay chúng ta nên tin rằng, bất chấp những lời hứa lắng nghe và tôn trọng, những lời cảnh báo của các ngài sẽ không được tính đến, như chúng ta thấy ngày nay? Chúa Giêsu nói: “Hãy coi chừng loài người” (Mt 10:17), bởi vì tất cả sự lầm lạc này, được khơi dậy bởi Tuyên ngôn “Fiducia Supplicans”, có thể xuất hiện trở lại dưới những công thức khác tinh tế hơn và ẩn giấu hơn trong phiên họp thứ hai của Thượng Hội đồng về tính đồng nghị, vào năm 2024, hoặc trong lập luận của những người giúp Đức Thánh Cha viết tông huấn hậu thượng hội đồng. Chẳng phải Sa-tan đã cám dỗ Chúa Giêsu ba lần đó sao? Chúng ta sẽ phải cảnh giác trước những thủ đoạn và dự án mà một số người đang chuẩn bị cho phiên họp tiếp theo của Thượng Hội đồng.

Mọi người kế vị các tông đồ phải dám nghiêm chỉnh xem xét những lời của Chúa Giêsu: “hễ ‘có’ thì phải nói ‘có’, ‘không’ thì phải nói ‘không’. Thêm thắt điều gì là do ma quỷ.”(Mt 5,37). Sách Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo cho chúng ta một ví dụ về một lời nói rõ ràng, sắc bén và can đảm như vậy. Bất kỳ con đường nào khác chắc chắn sẽ bị cắt ngắn, mơ hồ và gây lầm lạc. Vào lúc này, chúng ta nghe thấy nhiều bài phát biểu tinh vi và méo mó đến mức cuối cùng chúng rơi vào lời nguyền rủa do Chúa Giêsu tuyên bố: “Thêm thắt điều gì là do ma quỷ”. Những ý nghĩa mới của từ ngữ được phát minh ra, Kinh thánh bị mâu thuẫn và xuyên tạc trong khi vẫn cứ tuyên bố trung thành với chân lý. Cuối cùng chúng ta không còn phục vụ sự thật nữa.

Cũng cho phép tôi không rơi vào những lời ngụy biện vu vơ về ý nghĩa của từ phước lành. Rõ ràng là chúng ta có thể cầu nguyện cho tội nhân, rõ ràng là chúng ta có thể cầu xin Chúa cho họ hoán cải. Rõ ràng là chúng ta có thể chúc phúc cho người từng chút một quay về với Thiên Chúa để khiêm tốn cầu xin ân sủng có được một sự thay đổi thực sự và triệt để trong cuộc đời mình. Lời cầu nguyện của Giáo Hội không bị từ chối với bất cứ ai. Nhưng nó không bao giờ có thể bị chuyển hướng sang việc hợp pháp hóa tội lỗi, cơ cấu tội lỗi, hoặc thậm chí cơ hội gần nhất của tội lỗi. Tấm lòng thống hối và sám hối, dù còn xa mới nên thánh, cũng phải được chúc phúc. Nhưng chúng ta hãy nhớ rằng, trước sự từ chối hoán cải và sự cứng nhắc, không có lời chúc phúc nào phát ra từ miệng Thánh Phaolô mà đúng hơn là lời cảnh báo này: “lòng chai dạ đá không chịu hối cải, anh em càng làm cho cơn thịnh nộ của Thiên Chúa chồng chất trên đầu anh em, trong ngày Thiên Chúa nổi cơn thịnh nộ và biểu lộ phán quyết công minh. Ngày đó, Thiên Chúa sẽ thưởng phạt mỗi người tuỳ theo việc họ làm.”(Rm 2:5-6).

Chúng ta có nhiệm vụ phải trung thành với Đấng đã phán với chúng ta: “Tôi đã đến thế gian nhằm mục đích làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.” (Ga 18:37). Chúng ta, đến lượt mình, với tư cách là giám mục, linh mục, là người đã được rửa tội, có trách nhiệm làm chứng cho sự thật. Nếu chúng ta không dám trung thành với lời Chúa, chúng ta không những phản bội Ngài mà còn phản bội những người mà chúng ta hướng về. Sự tự do mà chúng ta phải trao cho những người sống trong các kết hợp đồng giới nằm trong sự thật của lời Chúa. Làm sao chúng ta lại dám làm cho họ tin rằng việc họ ở lại trong ngục tù tội lỗi là điều tốt lành và theo thánh ý của Thiên Chúa? “Nếu anh em ở lại trong lời của Ta, thì anh em thật là môn đệ Ta; anh em sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng anh em” (Ga 8,31-32).

Vì vậy, chúng ta đừng sợ nếu chúng ta không được thế giới hiểu và chấp nhận. Chúa Giêsu nói với chúng ta: “Thế gian ghét Ta, vì Ta làm chứng cho họ rằng công việc của họ là xấu xa” (Ga 7:7). Chỉ những người thuộc về sự thật mới có thể nghe thấy giọng nói của Người. Việc được chấp thuận và có sự đồng thanh không phụ thuộc vào chúng ta.

Chúng ta hãy nhớ đến lời cảnh báo nghiêm trọng của Đức Thánh Cha Phanxicô vào đầu triều đại giáo hoàng của ngài: «Chúng ta có thể đi bao nhiêu tùy thích, chúng ta có thể xây dựng nhiều thứ, nhưng nếu chúng ta không tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô thì điều đó không đúng. Chúng ta sẽ trở thành một tổ chức phi chính phủ phúc lợi, nhưng không phải là Giáo hội, Hiền thê của Chúa… Điều gì sẽ xảy ra khi bạn không xây dựng trên đá? Điều xảy ra với những đứa trẻ trên bãi biển là khi chúng làm những lâu đài cát, mọi thứ đều sụp đổ, không có sự nhất quán. Khi một người không tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô, câu nói của Léon Bloy hiện lên trong tâm trí: ‘Ai không cầu nguyện với Chúa là cầu nguyện với ma quỷ’. Khi bạn không tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô, bạn tuyên xưng tính trần tục của ma quỷ, tính trần tục của ma quỷ” (14 tháng 3 năm 2013).

Một lời từ Chúa Kitô sẽ phán xét chúng ta: “Ai thuộc về Thiên Chúa, thì nghe lời Thiên Chúa nói; còn các ông, các ông không chịu nghe, vì các ông không thuộc về Thiên Chúa.” (Ga 8:47).

[1] Đức Gioan Phaolô II, Sứ điệp Ngày Quốc tế Hòa bình, 1 tháng 1 năm 1980.

[2] Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Kinh Truyền Tin ngày 26 tháng 2 năm 2023.

[3] Kinh Truyền tin ngày 26 tháng 2 năm 2023.

[4] Đức Gioan Phaolô II, tông hiến “Fidei Depositum”.

[5] Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng khai mạc Thượng hội đồng Giám mục đặc biệt lần thứ hai về Phi Châu, ngày 4 tháng 10 năm 2009. Ngài sẽ sử dụng cùng một cách diễn đạt “Phi Châu, lá phổi thiêng liêng của nhân loại” trong “Africae munus”, n. 13.

[6] Đức Gioan Phaolô II, “Giáo hội ở Phi Châu”, n. 143.

J.B. Đặng Minh An dịch

LỜI CHÚA MỖI NGÀY

VATICAN NEWS

VIETCATHOLIC NEWS