Tĩnh tâm Mùa Chay 2022 cùng Giáo triều Rôma – Bài suy niệm thứ ba của Đức Hồng Y Raniero Cantalamessa: Hiệp Thông Thánh Thể

|>| Nghe bài này

Bên cạnh rất nhiều tai ương mà đại dịch Covid đang gây ra cho nhân loại, từ quan điểm của đức tin đã có ít nhất một tác động tích cực. Đại dịch làm cho chúng ta ý thức được nhu cầu của chúng ta đối với Bí tích Thánh Thể và sự trống rỗng mà sự thiếu vắng Bí tích Thánh Thể tạo ra; đại dịch đã giúp chúng ta không coi Bí Tích Thánh Thể là điều hiển nhiên.

Một số Giáo Hội địa phương và quốc gia đã quyết định dành năm hiện tại cho một bài giáo lý đặc biệt về Bí tích Thánh Thể, vì mong muốn có một sự phục hưng về Bí tích Thánh Thể trong Giáo Hội Công Giáo. Theo Đức Hồng Y Raniero Cantalamessa, đó là một quyết định đúng lúc và là một tấm gương để noi theo, khi đề cập đến một số khía cạnh có lẽ ít được xem xét về Bí Tích Thánh Thể. Do đó, ngài dành những suy tư của Mùa Chay 2022 để trình bày về mầu nhiệm Thánh Thể để nhấn mạnh rằng Bí tích Thánh Thể bảo đảm với chúng ta rằng Chúa Giêsu ở với chúng ta, không chỉ về mặt ý định mà thôi, nhưng là “thực sự” trong cái thế giới dường như có thể tuột khỏi tay chúng ta bất cứ lúc nào.

Trong hai bài tĩnh tâm trước, Đức Hồng Y đã trình bày phần thứ nhất Phụng vụ Lời Chúa, và phần thứ Hai là Phụng Vụ Thánh Thể.

Lúc 9g sáng ngày thứ Sáu 25 tháng Ba, Đức Hồng Y Raniero Cantalamessa, đã có bài thuyết giảng thứ ba cho Mùa Chay năm 2022 tại Đại Thính Đường Phaolô Đệ Lục ở Vatican. Chủ đề của bài giảng này là “Hiệp Thông Thánh Thể” hay rước lễ.

Mở đầu bài suy niệm, Đức Hồng Y nói:

Trong các bài giáo lý khai tâm của chúng ta về Bí tích Thánh Thể – sau phần Phụng vụ Lời Chúa và việc Truyền phép – giờ đây chúng ta đã đạt tới phần thứ ba, đó là phần hiệp lễ.

Đây là thời điểm trong Thánh lễ thể hiện rõ ràng nhất sự hiệp nhất và bình đẳng cơ bản của mọi thành phần dân Chúa, không có bất kỳ sự phân biệt nào về cấp bậc và thừa tác vụ. Trước thời điểm này, ta có thể thấy sự hiện diện rõ rệt của sự phân biệt giữa các thừa tác vụ: trong Phụng vụ Lời Chúa, có sự phân biệt giữa Giáo Hội giảng dạy và Giáo Hội học tập; trong phần truyền phép, có sự phân biệt giữa chức tư tế thừa tác và chức tư tế phổ quát. Trong phần hiệp lễ thì không hề có sự phân biệt nào cả. Người tín hữu được rước lễ y như các linh mục và giám mục. Hiệp thông Thánh Thể là lời tuyên xưng mang tính bí tích rằng: trong Giáo Hội, tư cách thành viên trong Giáo Hội, hay koinonia, cao hơn và quan trọng hơn phẩm trật.

Chúng ta hãy suy tư về hiệp thông Thánh Thể khởi đi từ một bản văn của thánh Phaolô: “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Đức Kitô ư? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1Cr 10,16-17).

Từ ngữ “thân thể” xuất hiện hai lần trong hai câu trên, nhưng với ý nghĩa khác nhau. Trong trường hợp thứ nhất (“Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao?”), từ ngữ “Thân thể” ở đây chỉ thân thể đích thật của Đức Kitô, sinh ra bởi Đức Maria, đã chết và sống lại; còn trong trường hợp thứ hai (“chúng ta là một thân thể”), ở đây, “thân thể” nói về nhiệm thể Chúa Kitô là Giáo Hội. Nói một cách rõ ràng và súc tích nhất là thế này: hiệp thông Thánh Thể luôn là hiệp thông với Thiên Chúa và hiệp thông với anh chị em của chúng ta; nghĩa là trong đó có một sự hiệp thông chiều dọc, và một sự hiệp thông chiều ngang. Chúng ta hãy bắt đầu với chiều kích đầu tiên.

Hiệp thông với Chúa Kitô

Loại hiệp thông nào được thiết lập giữa chúng ta và Chúa Kitô trong Bí tích Thánh Thể? Thưa: trong Tin Mừng theo Thánh Gioan, chương 6 câu 57, Chúa Giêsu nói: “Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai Ta, và Ta sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn Ta, cũng sẽ nhờ Ta mà được sống như vậy”. Giới từ “nhờ” ở đây (trong tiếng Hy Lạp là dià) có giá trị nguyên nhân và chung cuộc; nó chỉ ra cả chuyển động của điểm xuất phát và chuyển động của điểm đến. Có nghĩa là ai ăn thân thể Đức Kitô, thì sống “nhờ” Người, tức là sống nhờ vào sự sống đến từ Người; và sống “cho” Người, tức là cho vinh quang của Người, tình yêu của Người, Vương quốc của Người. Như Chúa Giêsu sống nhờ Chúa Cha và cho Chúa Cha, cũng thế, khi hiệp thông bản thân chúng ta trong mầu nhiệm Mình và Máu Chúa Giêsu, chúng ta sống nhờ Chúa Giêsu và cho Chúa Giêsu.

Trên thực tế, chính yếu tố mạnh nhất biến hóa yếu tố kém hơn vào chính nó, chứ không phải ngược lại. Rau biến hóa khoáng chất, chớ không phải ngược lại; động vật biến hóa cả rau và khoáng chất, chớ không phải ngược lại. Vì thế, trên bình diện thiêng liêng, chính Thiên Chúa biến hóa con người, chớ không phải ngược lại. Vì vậy, trong tất cả các trường hợp khác, người ăn là người biến hóa những gì mình ăn, ở đây, trong Bí tích Thánh Thể, chính Đấng bị ăn đồng hóa những ai đón nhận Người. Đối với những ai tiến lên lãnh nhận Thánh Thể, Chúa Giêsu lặp lại điều mà thánh Augustinô đã nghe chính Người nói: “Không phải ngươi sẽ đồng hóa Ta thành ngươi, nhưng chính Ta sẽ đồng hóa ngươi thành Ta”

Một triết gia vô thần đã nói: “Con người là những gì anh ta ăn” (F. Feuerbach), nghĩa là ở con người không có sự khác biệt về chất giữa vật chất và tinh thần, mà mọi thứ đều được giản lược trong thành phần hữu cơ và vật chất. Một người vô thần đã đưa ra công thức tốt nhất về một mầu nhiệm Kitô giáo, dù ông không biết về điều đó. Nhờ Thánh Thể, người Kitô hữu mới thực sự là những gì mình ăn! Trước đó rất lâu, thánh Lêô Cả cũng đã viết: “Việc chúng ta tham dự vào Mình và Máu Chúa Kitô, không nhằm điều gì khác hơn là làm cho chúng ta trở thành Đấng mà chúng ta đã ăn”

Do đó, trong Bí tích Thánh Thể, không chỉ có sự hiệp thông giữa Chúa Kitô và chúng ta, mà còn có sự đồng hóa; hiệp thông không chỉ là sự kết hợp của hai thân thể, hai tâm trí, hai ý chí, nhưng nó là sự đồng hóa nên một thân thể, một tâm trí và ý chí của Đức Kitô. “Ai đã kết hợp với Chúa, thì nên một tinh thần với Người” (1Cr 6,17).

Chất dinh dưỡng – ăn và uống – không phải là hình thái tương đồng duy nhất mà chúng ta có đối với hiệp thông Thánh Thể, ngay cả khi nó không thể thay thế được. Có điều gì đó mà từ dinh dưỡng không lột tả hết được, cũng như khi ta dùng quan hệ giữa cây nho và cành nho để nói về sự hiệp thông, cách diễn tả ấy không nói hết được ý nghĩa. Đó là sự hiệp thông giữa các vật, không phải giữa con người với nhau. Chúng giao tiếp, nhưng chúng không biết chúng giao tiếp. Tôi muốn nhấn mạnh vào một phép tương tự khác có thể giúp chúng ta hiểu bản chất của hiệp thông Thánh Thể là một sự hiệp thông giữa những người nhận biết và muốn sống trong tình hiệp thông.

Thư gửi tín hữu Êphêxô nói rằng hôn nhân của con người là biểu tượng của sự hiệp nhất giữa Chúa Kitô và Giáo Hội: “Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn đề cập đến Đức Kitô và Hội Thánh.” (Ep 5,31-33). Dùng một hình ảnh táo bạo nhưng chân thực, ta có thể nói rằng Bí tích Thánh Thể là sự viên mãn của cuộc hôn nhân giữa Chúa Kitô và Hội thánh, và đời sống Kitô hữu không có Thánh Thể là một cuộc hôn nhân được phê chuẩn nhưng không viên mãn. Trong phần hiệp lễ, vị chủ tế nói: “Phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa!” (Beati qui ad coenam Agni vocati sunt) và Sách Khải Huyền – mà từ đó cụm từ này được trích – nói rõ ràng hơn: “Hạnh phúc thay kẻ được mời đến dự tiệc cưới Con Chiên!” (Kh 19:9).

Giờ đây – một lần nữa theo thánh Phaolô – hệ quả tức thì của hôn nhân là thân xác (nghĩa là toàn thể con người) của người chồng trở thành của người vợ và ngược lại, thân thể của vợ trở thành thân thể của chồng (x. 1Cr 7,4). Điều này có nghĩa là xác thịt không hư nát và ban sự sống của Ngôi Lời nhập thể trở thành “của tôi”, nhưng cũng là xác thịt của tôi, nhân tính của tôi, trở thành của Đức Kitô, do Người làm nên của riêng Người. Trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta lãnh nhận Mình và Máu Chúa Kitô, nhưng Chúa Kitô cũng “lãnh nhận” mình và máu chúng ta nữa! Thánh Hilariô thành Poitiers viết, Chúa Giêsu “nhận lãnh xác thịt của những ai nhận lãnh Ngài”. Chúa Kitô nói với chúng ta: “Hãy cầm lấy mà ăn, này là Mình Thầy”, nhưng chúng ta cũng có thể nói với Chúa rằng: “Hãy cầm lấy mà ăn, này là mình con”.

Bây giờ chúng ta hãy cố gắng hiểu hệ quả của tất cả những điều này. Trong cuộc sống trần thế của Người, Chúa Giêsu không có tất cả những kinh nghiệm con người có thể có và có thể tưởng tượng được. Đầu tiên, Ngài là một người đàn ông, không phải một người phụ nữ: Chúa Giêsu không kinh qua kinh nghiệm của một nửa nhân loại; Người không kết hôn, Người không trải nghiệm được ý nghĩa của việc kết hợp trọn đời với một thụ tạo khác, để sinh con cái, hoặc tệ hơn là mất con; Người chết khi còn trẻ và Người không biết đến tuổi già…

Nhưng bây giờ, nhờ Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu có tất cả những kinh nghiệm này: tình trạng của nữ giới nơi người phụ nữ, tình trạng bệnh tật nơi người đau yếu, tình trạng già nua nơi người cao niên, tình trạng bấp bênh nơi những người di cư, nỗi kinh hoàng của người hứng chịu bom đạn… Không có gì trong đời tôi mà không thuộc về Đức Kitô. Không ai nên nói: “A! Chúa Giêsu không biết thế nào là lấy chồng, làm đàn bà, mất con, ốm đau, già yếu, trở thành người đen đủi!”

Điều mà Đức Kitô đã không thể sống “theo xác thịt”, thì bây giờ Người sống và “kinh nghiệm” như đã sống lại “theo Thần Khí”, nhờ sự hiệp thông phu phụ trong Thánh Lễ. Thánh nữ Êlisabét Chúa Ba Ngôi đã hiểu được lý do sâu xa của điều này khi thánh nữ viết cho mẹ mình: “Tân nương nay thuộc về lang quân. Đức Lang Quân của con giờ đây đã có được con rồi. Chúa muốn con trở thành một nhân tính được thêm vào cho Người”.

Thật là một lý do vô tận để ngạc nhiên và an ủi khi nghĩ rằng nhân loại của chúng ta trở thành nhân tính của Đức Kitô! Nhưng cũng có trách nhiệm từ tất cả những điều này! Nếu mắt tôi đã trở thành mắt của Đức Kitô, miệng tôi là của Đức Kitô, thì sao tôi có thể để cho mắt tôi nhìn vào những hình ảnh dâm ô, hay để lưỡi tôi nói lời chống lại anh em mình, hay để thân thể tôi bị dùng như một công cụ của tội lỗi. “Tôi lại lấy phần thân thể của Đức Kitô mà làm phần thân thể của người kỹ nữ sao? Không đời nào!”, thánh Phaolô đã viết cho tín hữu Côrintô với sự kinh hoàng như thế (1Cr 6:15).

Tuy nhiên, đó vẫn chưa phải là tất cả; phần đẹp nhất vẫn còn bị thiếu. Thân thể nàng dâu thuộc về chàng rể; đúng, nhưng thân thể của chàng rể cũng thuộc về nàng dâu. Từ việc cho đi, chúng ta phải ngay lập tức chuyển qua việc nhận lãnh trong sự hiệp thông. Chúng ta không nhận lãnh điều gì khác hơn là sự thánh thiêng của Đức Kitô! “Sự trao đổi kỳ diệu” (admirabile commercium) mà phụng vụ nói đến sẽ thực sự diễn ra ở đâu trong đời sống của người tín hữu, nếu nó không được thực hiện vào lúc hiệp lễ?

Ở đó, chúng ta có cơ hội trao cho Chúa Giêsu những chiếc áo rách bẩn thỉu của mình và đón nhận từ Người “áo choàng công chính” (Is 61,10). Thật vậy, có lời chép rằng “chính nhờ Thiên Chúa, Đức Kitô Giêsu đã trở nên sự khôn ngoan, sự công chính, sự thánh hóa và ơn cứu chuộc cho chúng ta” (x. 1Cr 1,30). Những gì Người đã trở nên “cho chúng ta” thì đã được tiền định cho chúng ta, thuộc về chúng ta. Cabasilas viết: “Vì chúng ta thuộc về Chúa Kitô hơn thuộc về chúng ta, ‘Người đã trả giá đắt mà chuộc lấy chúng ta’ (1Cr 6:20), thật trái ngược là những gì thuộc về Chúa Kitô thì lại thuộc về chúng ta hơn là nếu nó là của chúng ta”. Chúng ta chỉ cần nhớ một điều: chúng ta thuộc về Đức Kitô nhờ quyền [làm con cái Chúa], Người thuộc về chúng ta bởi ân sủng!

Đó là một khám phá có khả năng chắp cánh cho đời sống thiêng liêng của chúng ta. Đây là một sự đột phá của đức tin và chúng ta nên cầu nguyện xin Chúa đừng để chúng ta chết trước khi chúng ta đạt được đức tin đó.

Hiệp thông với Chúa Ba Ngôi

Suy niệm về Bí tích Thánh Thể cũng giống như nhìn thấy những chân trời ngày càng rộng lớn đang mở ra trước mặt một người khi người đó càng tiến lên cao thì càng nhìn xa hết mức mắt có thể nhìn thấy. Chân trời Kitô học về sự hiệp thông mà chúng ta đã chiêm ngưỡng cho đến nay mở ra một chân trời Ba Ngôi. Nói cách khác, nhờ hiệp thông với Chúa Kitô, chúng ta tiến vào sự hiệp thông với cả Ba Ngôi Thiên Chúa. Trong “lời nguyện hiến tế”, Chúa Giêsu thưa với Chúa Cha rằng: “Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một” (Ga 17:23). Những lời: “Con ở trong họ và Cha ở trong con” có nghĩa là Chúa Giêsu ở trong chúng ta và Chúa Cha ở trong Chúa Giêsu. Vì vậy, người ta không thể đón nhận Chúa Con mà không đón nhận Chúa Cha đến với mình. Lời của Đức Kitô: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14:9) cũng có nghĩa là “ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Cha Thầy”.

Lý do tối cao cho điều này là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là một và bản tính thần linh không thể tách rời, tất cả Ba Ngôi là “một”. Về vấn đề này, thánh Hilariô thành Poitiers đã viết: “Chúng ta kết hiệp với Đức Kitô, Đấng không thể tách rời khỏi Chúa Cha. Khi ở trong Chúa Cha, Người vẫn hiệp nhất với chúng ta; do đó, chúng ta cũng đi đến sự hiệp nhất với Chúa Cha theo cách đó. Thật vậy, Đức Kitô ở trong Chúa Cha một cách đồng bản tính, vì Người được sinh ra bởi Chúa Cha; nhưng theo một cách nào đó, chúng ta cũng nhờ Đức Kitô mà được ở trong Chúa Cha một cách đồng bản tính. Đức Kitô sống nhờ Chúa Cha, và chúng ta sống nhờ nhân tính của Người”

Trong Bí tích Thánh Thể có một bản sao bí tích của những gì đã diễn ra trong lịch sử cuộc đời trần thế của Đức Kitô. Vào giây phút giáng sinh trên trần thế, chính Chúa Thánh Thần đã ban Chúa Kitô cho thế giới (Mẹ Maria đã thụ thai bởi phép của Chúa Thánh Thần!); vào giờ chết, chính Chúa Kitô là Đấng ban Thánh Thần cho thế gian (khi trút hơi thở cuối cùng, Người đã “trao Thần Khí”). Tương tự, trong Bí tích Thánh Thể, lúc truyền phép, chính Chúa Thánh Thần ban Chúa Giêsu cho chúng ta, vì nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, mà bánh được biến đổi thành thân thể Đức Kitô; tại thời điểm hiệp lễ, chính Đức Kitô, Đấng đến trong chúng ta, ban Thánh Thần cho chúng ta.

Thánh Irênê (người mà cuối cùng là Tiến sĩ của Hội thánh!) nói rằng: Chúa Thánh Thần là “chính sự hiệp thông của chúng ta với Chúa Kitô”. Trong sự hiệp thông, Chúa Giêsu đến với chúng ta với tư cách là Đấng ban Thần Khí. Không phải như Người xưa kia đã ban Thánh Thần, nhưng như Người bây giờ, một lần nữa, khi hiến tế trên bàn thờ, “Người trao Thần Khí” (x. Ga 19,30).

Tất cả những gì tôi đã nói về Chúa Ba Ngôi và Thánh Thể được tóm tắt một cách trực quan trong biểu tượng bức tranh của Rublev về ba Thiên thần xung quanh bàn thờ. Cả Ba Ngôi ban cho chúng ta Thánh Thể và tự hiến cho chúng ta trong Bí tích Thánh Thể. Bí tích Thánh Thể không chỉ là Lễ Phục sinh hàng ngày của chúng ta; đó cũng là Lễ Hiện Xuống hàng ngày của chúng ta nữa!

Hiệp thông với nhau

Từ những đỉnh cao chóng mặt này, giờ đây chúng ta hãy trở lại trần gian và chuyển sang chiều kích thứ hai của hiệp thông Thánh Thể: đó là hiệp thông với nhiệm thể Chúa Kitô là Hội thánh. Chúng ta hãy nhớ lại lời của thánh Phaolô Tông đồ rằng: “Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1Cr 10:17).

Phát triển một tư tưởng đã được phác thảo trong sách Didache, thánh Augustinô nhìn thấy một phép tương đồng trong cách thức mà hai thân thể của Đức Kitô được hình thành: Thánh Thể và Hội thánh. Trong trường hợp của Bí tích Thánh Thể, trước hết chúng ta có lúa mì rải rác trên các ngọn đồi, lúa mì được đập, xay, trộn trong nước và nấu trên lửa trở thành bánh dâng lên bàn thờ; còn trong trường hợp của Hội thánh, chúng ta có vô số người, những người hiệp nhất bằng cách rao giảng Tin Mừng, bằng cách ăn chay và sám hối, dìm vào trong nước khi làm phép rửa và nấu chín trong lửa của Thánh Linh, tạo thành thân thể là Hội thánh.

Về bình diện này, lời của Đức Kitô ngay lập tức đến với chúng ta: “Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình” (Mt 5:23-24). Nếu anh chị em đi rước lễ, nhưng anh chị em đã xúc phạm một người anh chị em của mình, và anh chị em chưa hòa giải, anh chị em chứa một mối hận thù, thì theo thánh Augustinô, anh chị em giống một người nhìn thấy một người bạn lâu năm không gặp tiến đến với mình. Người ấy chạy đến với người bạn, nhón chân lên hôn lên trán người bạn… Nhưng khi làm điều này, người ấy đã không để ý rằng, mình đang dẫm lên chân người bạn bằng đôi giày đinh của mình. Các anh chị em của chúng ta là đôi chân của Chúa Giêsu, Đấng vẫn còn bước đi trên trần gian.

Hiệp thông với những người nghèo

Điều này đặc biệt đúng đối với những người nghèo, những người khốn khổ, những người bị gạt ra ngoài lề xã hội. Đấng đã nói về bánh: “Này là Mình Thầy”, thì cũng nói về người nghèo. Đức Giêsu đã nói điều này khi đang nói về những gì đã làm cho những kẻ đói, kẻ khát, người tù và người trần truồng, thì Người tuyên bố trịnh trọng rằng: “các ngươi đã làm cho chính Ta vậy!”. Điều này chẳng khác nào nói: “Vì xưa Ta đói; Ta khát; Ta là khách lạ; Ta đau yếu; Ta ngồi tù” (x. Mt 25: 35ff). Tôi đã nhớ những lần mà khoảnh khắc khi sự thật này gần như bùng nổ trong tôi. Tôi đang thực hiện một nhiệm vụ ở một đất nước rất nghèo. Băng qua các con đường của thủ đô, tôi thấy đâu đâu cũng có những đứa trẻ phủ trên mình một vài mảnh áo rách bẩn thỉu, chạy theo xe rác để kiếm chút gì ăn. Vào một khoảnh khắc nào đó, cứ như thể Chúa Giêsu đang nói với tôi rằng: “Hãy xem kỹ: đó là thân thể Thầy!”.

Người em gái của triết gia vĩ đại Blaise Pascal kể sự việc này với anh Pascal. Trong lần đau ốm cuối cùng của mình, Pascal không thể giữ lại trong miệng bất cứ thứ gì ông đã ăn, và vì thế mà họ không cho ông ta nhận Thánh Thể như của ăn đàng khi ông nhất quyết yêu cầu. Sau đó, ông nói: “Nếu không thể ban phép Thánh Thể cho tôi, thì ít nhất hãy để một người nghèo khó nào đó vào phòng của tôi. Nếu tôi không thể hiệp thông với Đấng là Đầu, thì tôi muốn rằng, ít nhất tôi cũng phải được hiệp thông với các chi thể của Người”.

Trở ngại duy nhất cho việc rước lễ mà thánh Phaolô nêu rõ ràng là sự kiện trong khi họp cộng đoàn là, “kẻ thì đói, người lại say”: “Khi anh em họp nhau, thì không phải là để ăn bữa tối của Chúa. Thật vậy, mỗi người lo ăn bữa riêng của mình trước, và như thế, kẻ thì đói, người lại say” (1Cr 11:20-21). Nói “đây không phải là ăn Bữa Tiệc Ly của Chúa” chẳng khác nào nói: bữa ăn của bạn không còn là Thánh Thể đích thực nữa! Đó là một tuyên bố mạnh mẽ, ngay cả từ quan điểm thần học, mà có lẽ chúng ta không chú ý đến đúng mức.

Ngày nay, tình trạng kẻ ăn không hết người lần không ra không còn là vấn đề địa phương mà là vấn đề toàn cầu. Không thể có điểm chung nào giữa bữa ăn tối của Chúa và bữa ăn trưa của người giàu, nơi ông chủ tổ chức tiệc tùng xa hoa, không để ý đến những người nghèo đang ở trước cổng nhà mình (x. Lc 16:19ff). Mối quan tâm chia sẻ những gì mình có với những người có nhu cầu, gần và xa, phải là một phần không thể thiếu trong đời sống Thánh Thể của chúng ta.

Không có ai có thiện chí mà trong suốt một tuần lại không thể thực hiện một trong những cử chỉ mà Chúa Giêsu nói: “Ngươi đã làm điều đó cho chính Ta vậy”. Chia sẻ không chỉ đơn giản có nghĩa là “cho một cái gì đó”: lương thực, quần áo, lòng hiếu khách; nó cũng có nghĩa là đi thăm một ai đó: một tù nhân, một người bệnh, một người già cả neo đơn sống một mình. Đó không chỉ là đưa mớ tiền giúp đỡ cho một ai đó, mà còn là dành thời giờ cho họ nữa. Người nghèo và những người đau khổ cần tình liên đới và tình yêu thương, không kém gì cơm ăn áo mặc, nhất là trong thời bị phong tỏa cô lập do đại dịch Covid áp đặt.

Đức Giêsu đã nói: “Người nghèo thì lúc nào anh em cũng có với anh em; còn Thầy, thì không phải lúc nào anh em cũng có đâu!” (Mt 26:11). Điều này cũng đúng theo nghĩa là chúng ta không phải lúc nào cũng có thể rước Mình Thánh Chúa trong Bí tích Thánh Thể, và ngay cả khi chúng ta làm vậy, thì việc hiệp lễ đó cũng chỉ kéo dài vài phút, trong khi chúng ta luôn có thể nhận được Mình Thánh Chúa nơi những người nghèo. Không có giới hạn ở đây, chỉ cần chúng ta muốn là có. Chúng ta luôn có người nghèo ở bên cạnh chúng ta. Bất cứ khi nào chúng ta gặp ai đó đang đau khổ, nhất là khi chúng ta đang phải đối mặt với một số hình thức đau khổ tột cùng nào đó, nếu chúng ta chú ý lắng nghe, chúng ta sẽ nghe thấy, với đôi tai của đức tin, và lời của Chúa Kitô: “Này là Mình Thầy!”.

Tôi xin kết thúc bằng một câu chuyện nho nhỏ mà tôi đã đọc ở đâu đó. Một người đàn ông nhìn thấy một cô bé bị suy dinh dưỡng, đi chân đất và run lên vì rét, và gần như ông tức giận hét lên với Chúa rằng: “Chúa ơi, tại sao Chúa không làm một điều gì đó cho cô bé đi chứ?”. Chúa trả lời ông rằng: “Dĩ nhiên, Ta đã làm một điều gì đó cho cô bé đó rồi: Ta đã dựng nên con để con giúp đỡ cô bé!”

Nguyện xin Chúa giúp chúng ta biết nhắc nhở bản thân mình đúng lúc.

1. x. Thánh Augustinô, Tự thuật, VII, 10.
2. Thánh Lêô Cả, Bài giảng số 12, về cuộc thương khó, 7 (CCL 138A, tr. 388).
3. Thánh Hilariô Poitiers, De Trinitate, 8, 16 (PL 10, 248): “Eius tantum in se adsumptam habens carnem, qui suam sumpserit”.
4. Thánh Elisabét Chúa Ba Ngôi, Thư gửi mẹ số 261
5. N. Cabasilas, Đời sống trong Đức Kitô, IV, 6 (PG 150, 613).
6. Thánh Hilariô, De Trinitate, VIII, 13-16 (PL 10, 246ff).
7. Thánh Irênê, Adversus haereses, III, 24, 1.
8. Thánh Augustinô, Sermo Denis, 6 (PL 46, 834ff).
9. x. Thánh Augustinô, Chú giải về Thư thứ nhất của thánh Gioan, 10,8.
10. Cuộc đời của Pascal, trong Bio. Pascal, Oeuvres Coalètes, Paris 1954

Bản dịch Việt Ngữ của J.B. Đặng Minh An

DIỄN ĐÀN

BÀI MỚI NHẤT